II.3. Các bài toán động lực học :
Trong tiết này chúng ta sẽ áp dụng các định luật động lực học của Niu-tơn để giải các bài toán động lực học. Trong động lực học người ta chia làm hai loại bài toán sau đây :
Bài toán thuận của động lực học là : biết chuyển động của chất điểm, xác định lực gây ra chuyển động.
Bài toán ngược của động lực học là : biết các lực tác dụng lên chất điểm và những điều kiện ban đầu của chuyển động, xác định chuyển động của chất điểm.
II.3.1.Bài toán thuận của động lực học :
Để giải loại bài toán này, trước tiên cần phải xác định gia tốc của chất điểm, sau đó sẽ áp dụng công thức (II.1b) để tìm lực tác dụng lên chất điểm.
Ví dụ 1 : Kéo một gầu nước từ dưới giếng lên cao nhanh dần với gia tốc là
. Hãy xác định lực kéo.
Ta biết lực tác dụng tổng cộng lên gầu gồm lực kéo
k và trọng lượng
=m
của gầu. Theo định luật II Niu-tơn và để ư rằng hai lực này ngược chiều nhau nên ta có :
Fk-mg = ma
Từ đó : Fk = m(g+a)
Ta thấy lực kéo phải lớn hơn trọng lượng của gầu, đặc biệt là Fk càng lớn khi gia tốc a càng lớn.
Ví dụ 2 : Một ô-tô trọng lượng P chạy qua một cầu cong bán kính R với vận tốc v. Hãy xác định áp lực mà ô-tô nén lên mặt cầu. Bỏ qua lực ma sát.

Các lực tác động lên ô-tô gồm : trọng lượng
của ô-tô và phản lực pháp tuyến
của mặt cầu. Trong lượng
có thể phân tích thành hai thành phần
t và
n :
Pt= Psina tạo ra gia tốc tiếp tuyến của ô-tô
Pn= Pcosa
góp phần tạo ra gia tốc pháp tuyến của ô-tô. Vì
và
n ngược chiều nhau nên lực pháp tuyến (lực hướng tâm) :
Pcosa
-N = m![]()
Từ đó phản lực pháp tuyến N bằng :
N= Pcosa
- m
= mg(cosa
-
)
Áp lực mà ô-tô nén lên mặt cầu theo định luật III Niu-tơn về trị số bằng phản lực pháp tuyến
mà mặt cầu tác dụng lên ô-tô. Ta thấy lực nén này luôn nhỏ hơn P và phụ thuộc vào vận tốc ô-tô.
Áp lực này lớn nhất tại đỉnh của cầu, tại đó a
= 0
II.3.2. Bài toán ngược của động lực học :
Để giải b
Ví dụ 1 :
Một hệ gồm hai vật có khối lượng m1 và m2 được nối nhau bằng một sợi dây không co dãn. Đầu kia của m1 nối với một sợi dây khác vắt qua một ròng rọc và nối với một quả nặng m. Giả sử hệ chuyển động không ma sát, khối lượng dây nối và ròng rọc không đáng kể. Hãy xác định chuyển động của hệ.
Gọi
là lực căng của sợi dây nối quả nặng m với m1. Lực
mà sợi dây kéo m1 là
c̣n kéo quả nặng m là
-
.
Đối với quả nặng m ta có phương tŕnh :
mg-T= ma
gọi
1 là lực căng của đoạn dây nối m1 với m2.
Đối với m1 ta có phương tŕnh :
T-T1= m1a
Đối với vật m
2 ta có phương trình chuyển động :T1= m2a
Cộng ba phương trình trên lại với nhau, ta tìm được gia tốc a của hệ :
a =
Cũng có thể tìm ngay được gia tốc a của hệ nếu để ư rằng do sợi dây không co dãn nên có thể xem chuyển động của hệ như là chuyển động của một vật thể thống nhất với khối lượng là (m+m1+m2) và lực duy nhất tác động lên hệ là m
:
Theo định luật II : a =
Chuyển động của hệ là nhanh dần đều với gia tốc a. Do vậy phương trình chuyển động của hệ là :
s = so+vot+
at2
Ví dụ 2:
Một hệ gồm ba
vật khối lượng m1, m2, m3
treo trên hai ṛng rọc bằng các sợi dây không co dăn như ở h́nh bên. Giả sử khối
lượng của các ṛng rọc và các sợi dây không đáng kể. Bỏ qua ma sát giữa dây và
ṛng rọc. Hăy xác định gia tốc của mỗi vật và lực căng của các sợi dây. Gọi lực
căng của các sợi dây lần lượt là
1
,
2
,
3
và gia tốc của các vật là
1,
2,
3. Áp dụng công thức
cơ bản (II.1b) cho ba vật ta có :
m1a1=m1g-T1 (1)
m2a2=m2g-T2 (2)
m3a3=m3g-T3 (3)
Do ròng rọc không có khối lượng và dây không co dãn nên dễ dàng suy ra rằng:
T2=T3 (4)
T1=T2+T3 (5)
Để giải được bài toán ta cần tìm thêm một phương trình nữa vì rằng ta có 6 ẩn số là a1, a2, a3, T1, T2, T3 nhưng ta mới có 5 phương trình. Ta nhận xét rằng do các vật bị nối với nhau qua các sợi dây nên chuyển động của chúng tất nhiên có sự ràng buộc lẫn nhau, nói cách khác giữa các gia tốc của chúng phải có mối quan hệ với nhau. Ta tìm mối quan hệ đó. Chọn chiều dương của trục Ox hướng xuống dưới như ở hình. Gốc tọa độ (vị trí O) được chọn là ròng rọc thứ nhất vì vị trí đó không thay đổi theo thời gian. Vị trí của m1 là x1, m2 là x2, m3 là x3; của ròng rọc thứ hai là xo. Gọi r là bán kính của ròng rọc. Do các sợi dây l1 và l2 không co dãn nên ta có các phương trình biểu diễn độ dài của các sợi dây như sau :
x1+xo+p r = l1
(x2-xo)+(x3-xo)+ p r = l2
Nhân phương trình đầu với 2 rồi cộng với phương trình thứ hai, ta có :
2x1+x2+x3+3p r = 2 l1+l2L
Lấy đạo hàm hai lần theo thời gian phương trình trên và để ư rằng r, l1, l2 là hằng số ta có :
2
+
+
= 0
hay : 2a1+a2+a3 = 0 (6)
Giải hệ phương trình (1)…(6) như sau :
lấy (1) trừ (2) và (3) ta được :
m1a1-m2a2-m3a3=(m1-m2-m3)g (7)
lấy (2) trừ (3) ta có :
m2a2-m3a3=(m2-m3)g (8)
Giải hệ ba phương trình (6), (7), (8) ta tìm được :
a3 =
(9)
thay biểu thức này vào (8) ta tìm được :
a2 =
(10)
thay (10) và (9) vào (6) ta tìm được :
a1 =
(11)
thay (11) vào (1) ta tìm được lực căng :
T1=
(12)
Cuối cùng, để ư đến (4) và (5) ta tìm được :
T2=T3=
(13)