II.12.2. Giản đồ thế năng :

Ta xét một trường hợp cụ thể là trường hợp chất điểm gắn ở đầu một lò xo bị biến dạng (nén hay kéo dãn).Ta biết rằng thế năng biến dạng đàn hồi là U(x) =kx2. Hình dưới trình bày sự phụ thuộc U(x). Đó là một đường parabôn.

Chất điểm chuyển động trong một trường thế nên cơ năng E(x) = K+U là một hằng số. Trên hình cơ năng E(x) được biểu diễn bằng một đường thẳng nằm ngang.

Trên đồ thị ta thấy khoảng cách theo phương thẳng đứng giữa một điểm nằm trên đường cong U và đường thẳng nằm ngang E chính là động năng K của chất điểm tại vị trí đó, tức là K = E - U.

Ta nhận thấy động năng K(x) có giá trị cực đại tại vị trí x = 0 và K(x) = 0 tại các điểm x = ± A, tại đó đường U(x) cắt đường thẳng E(x). Như vậy chất điểm có vận tốc cực đại tại x = 0 và có vận tốc bằng 0 tại các điểm x = ± A.

Vì rằng thế năng U(x) không thể có giá trị lớn hơn cơ năng E vì nếu điều này xảy ra thì K=mv2 < 0 điều này không thể có được, do đó ta suy ra chất điểm chỉ có thể chuyển động dao động giữa hai điểm A và –A.

Vì rằng lực tác dụng lên chất điểm

Fx(x) = -= -(kx2) = -kx.

luôn hướng ngược chiều với chuyển động (thể hiện bởi dấu “-” trong biểu thức trên) nên mỗi khi chất điểm ở một vị trí x ¹ 0 thì lực tác dụng lên chất điểm có xu hướng kéo nó trở về vị trí cân bằng x = 0, tại đó thế năng và lực đều bằng 0, do đó điểm x=0 là một vị trí cân bằng của chất điểm. Ngoài ra, điểm x = 0 là một điểm cân bằng ổn định. Tại điểm cân bằng ổn định thì thế năng U(x) = 0, tức là có giá trị cực tiểu.

Một cách tổng quát, ta nói rằng những điểm mà tại đó thế năng là cực tiểu là những điểm cân bằng ổn định.

Hình dưới trình bày dạng của một hàm thế năng phức tạp hơn và của lực tương ứng Fx= -. Các cực đại và cực tiểu (cực trị) của U(x) ứng với giá trị tại đó Fx = 0.

Như đã phân tích ở trên, các điểm x1, x3 là các điểm cân bằng ổn định. Tại các điểm này, hệ số góc của đường cong U(x), tức là , bằng 0 và do đó Fx cũng bằng 0. Khi chất điểm hơi bị lệch so với vị trí x1, x3 thì lực Fx có xu hướng kéo nó trở về vị trí cân bằng ổn định. Hệ số góc của đường cong U(x) cũng bằng 0 tại các vị trí x2, x4đó cũng là các vị trí cân bằng, tuy nhiên khi chất điểm lệch khỏi các vị trí x2, x4 thì lực tác dụng có xu hướng đẩy nó ra xa khỏi vị trí cân bằng do đó mà các vị trí x2, x4 là các vị trí cân bằng không bền. (xem chiều tác dụng của các lực ở tại x2, x4).

Vậy ta có thể nói các vị trí cực đại của thế năng ứng với các vị trí cân bằng không bền.

Chú ý:

Cần chú ý rằng chiều của lực tác dụng lên chất điểm không phải được xác định bởi dấu của thế năng U mà được xác định bởi dấu của biểu thức Fx = -. Như chúng ta đã biết vì hàm thế năng xác định sai kém một hằng số nên trong trường hợp của trường hấp dẫn có lúc chúng ta chọn biểu thức của thế năng hấp dẫn là U(h)=mgh, tức là U(h) > 0, có lúc chúng ta lại chọn thế năng hấp dẫn là U(r) = -G (U(r) < 0). Như vậy, tùy theo cách chọn gốc thế năng mà thế năng có thể có giá trị dương hay âm. Tuy nhiên , điều này không ảnh hưởng đến việc xác định chiều của lực. Thật vậy chiều của lực được xác định bởi dấu của gia số D U của thế năng giữa hai điểm và đó cũng chính là dấu của đạo hàm Fx = -. Do đó, việc chúng ta thêm một hằng số vào biểu thức của thế năng U không làm thay đổi ý nghĩa vật lý của vấn đề đang xét.

Quay trở lại hình trên. Giả sử nếu năng lượng toàn phần của hạt là E1 và ban đầu hạt nằm ở gần x1. Khi đó, vì U không thể lớn hơn E1 nên hạt chỉ có thể chuyển động giữa hai vị trí xa và xb. Tại x = xa và x = xb hạt dừng lại và đổi chiều chuyển động. Ta nói hạt chuyển động trong một hố thế năng. Nếu bằng một cách nào đó ta làm tăng năng lượng toàn phần lên đến mức E2 thì hạt sẽ chuyển động trong một phạm vi rộng hơn (xc, xd). Nếu năng lượng toàn phần của hạt lớn hơn E3 thì hạt có thể "thoát ra" và chuyển động tự do không còn bị ràng buộc trong các hố thế năng. E3 là năng lượng phân ly. Cũng ở trong hình trên Eo là giá trị thế năng cực tiểu mà hệ thống có thể có.

Ví dụ :

Thế năng của hai nguyên tử trong một phân tử gồm hai nguyên tử được cho gần đúng bằng U(r) = a/r12-b/r6, trong đó r là khoảng cách giữa các nguyên tử và a, b là các hằng số dương.

a) Hãy xác định lực F(r) tác dụng lên mỗi nguyên tử như là hàm của r. Hãy vẽ hai đồ thị : một của U(r) theo r và hai là của F(r) theo r.

b) Hãy tìm khoảng cách cân bằng giữa hai nguyên tử. Khoảng cách cân bằng đó có ổn định không ?

c) Giả sử khoảng cách giữa hai nguyên tử bằng khoảng cách cân bằng tìm được ở b). Hỏi giá trị năng lượng cực tiểu cần truyền cho phân tử để có thể làm phân ly nó.

d) Đối với phân tử CO thì khoảng cách cân bằng giữa các nguyên tử C và O là 1,13.10-10m và năng lượng phân ly là 1,54.10-18J cho một phân tử. Hãy tìm các giá trị a và b.

Bài giải :

a) Lực tác dụng lên mỗi nguyên tử trong phân tử được xác định theo :

F(r) = -= -[ a/r12-b/r6] = (12a/r13) -(6b/r7)      (1)

Để vẽ được đồ thị U(r), theo đầu bài :

U(r) = a/r12-b/r6 = U1(r) + U2(r)

trong đó :     U1(r) = a/r12 > 0;U2(r) = -b/r6 < 0

Vì U1(r) dương nên thế năng U1(r) tương ứng là thế năng của lực đẩy nguyên tử còn U2(r) âm nên tương ứng là thế năng của lực hút nguyên tử.

Khi r® 0 (các nguyên tử xích lại rất gần nhau) thì ï U1(r)ï >> ï U2(r)ï nên lực đẩy đóng vai trò chính, còn khi r® ¥ (các nguyên tử rời xa nhau) thì ï U1(r)ï << ï U2(r)ï nên lực hút đóng vai trò chính của lực tác dụng lên nguyên tử.

Để vẽ U(r) ta lần lượt vẽ U1(r) và U2(r) sau đó vẽ U(r) là tổng của hai đường cong U1(r) và U2(r) tại mỗi vị trí. Đồ thị của F(r) cũng tương tự.

b) Muốn tìm vị trí cân bằng x1 của các nguyên tử , ta có nhận xét là tại x1 thì thế năng U(r) là cực tiểu và lực tác dụng lên các nguyên tử phải bằng 0. Thay r=x1 vào phương trình (1) và cho bằng 0, ta có :

(12a/x113) - (6b/x17) = 0

hay              = x16

vậy               x1 =

Vì cân bằng này ứng với cực tiểu của thế năng nên điểm cân bằng này là cân bằng ổn định. Cũng có thể thấy rõ điều này khi trên đồ thị cũng giới thiệu chiều của lực tác dụng quanh điểm x1.

c) Từ đồ thị của U(r) ta thấy nếu ta cung cấp cho phân tử một năng lượng E ³ ï U(r)minï thì các nguyên tử có thể rời xa nhau và phân tử bị phân ly.

Vậy :

Ephân ly = ï U(r)minï = ï U(x1)ï = ï Uï

Hay :

Ephânly=ï ï =ï ï =ï ï =ï ï =ï ï

=ï -ï =

Vậy Ephânly =

d) Đối với phân tử CO theo đầu bài : x1=1,13.10-10m và Ephânly = 1,54.10-12J nên ta có hai phương trình sau đây để tìm a, b :

= 1,13.10-10(m) Þ = (1,13)6.10-60 (m6)

= 1,54.10-18 (J)

Nhân hai phương trình trên với nhau ta có phương trình mới :

= b/2 = (1,13)6.(1,54).10-78(J.m6)

Từ đó ta tính được :

b = 2(1,13)6.(1,54).10-78 = 6,41.10-78 J.m6

2a = b(1,13)6.10-60 (J.m12)

hay a = 3,205(1,13)6.10-138 = 6,67.10-138J.m12