Trường Đại học Công nghệ Thông tin

Tin tức giáo dục

ĐH Quốc gia TP.HCM đề xuất thi ĐH 5 môn

ĐH Quốc gia TP.HCM đề xuất thi ĐH 5 môn

29-11-2012
TT - PGS.TS Nguyễn Hội Nghĩa,PGĐ ĐHQG TP.HCM, nhấn mạnh: dự thảo đề án đổi mới tuyển sinh ĐH đưa ra những biện pháp để đánh giá thí sinh toàn diện hơn, đánh giá năng lực toàn diện để học ĐH chứ không phải chỉ kiểm tra kiến thức phổ thông. Sáng 28-11, ĐHQG TP.HCM đã tổ chức hội thảo “Xây dựng đề án đổi mới tuyển sinh ĐH tại ĐHQG TP.HCM”. Thí sinh dự thi vào Trường ĐH KHXH&NV (ĐHQG TP.HCM) chỉnh sửa phiếu báo dự thi tại kỳ thi đại học, cao đẳng năm 2012 - Ảnh: Như Hùng Việc cải tiến này sẽ giúp chọn được đối tượng sinh viên có kiến thức, kỹ năng, thái độ phù hợp với ngành đào tạo; định hướng đúng đắn cho quá trình học tập của học sinh ở bậc phổ thông và giúp thí sinh có sự chuẩn bị tốt cho quá trình học ĐH. Nên thi năm môn Theo đánh giá của ĐHQG TP.HCM, kỳ thi tuyển sinh ba chung áp dụng hiện nay về cơ bản đáp ứng được một phần mục tiêu lựa chọn sinh viên của các trường ĐH. Tuy nhiên, cách tổ chức này vẫn còn một số hạn chế như đề thi chỉ tập trung vào việc kiểm tra kiến thức, chưa coi trọng việc đánh giá năng lực suy luận, tư duy và tính sáng tạo; quy trình xây dựng đề thi chưa áp dụng công nghệ đo lường giáo dục hiện đại; khối thi ĐH tạo ra sự học lệch ở bậc phổ thông; chưa xem xét thái độ của thí sinh với ngành nghề... Theo ban soạn thảo đề án, việc cải tiến kỳ thi sẽ bắt đầu từ việc tổ chức thi. Theo đó, cần có một đơn vị chuyên trách đứng ra tổ chức kỳ thi đánh giá năng lực bao gồm việc ra đề và tổ chức thi. Kỳ thi đánh giá năng lực sẽ đánh giá phần chung nhất về kiến thức, kỹ năng cần thiết để học ĐH của thí sinh. Các trường sử dụng kết quả này để xét tuyển hoặc bổ sung các tiêu chí xét tuyển khác phù hợp với đặc thù của mình. Cơ cấu môn thi của kỳ thi này gồm năm môn: toán, tiếng Việt, khoa học tự nhiên (gồm kiến thức các môn lý, hóa, sinh), khoa học xã hội (văn, sử, địa), tiếng Anh và năng khiếu (dành cho các trường nghệ thuật, thể thao). Trong đó hai môn toán và tiếng Việt thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan và tự luận (phần tự luận chiếm 30% tổng số điểm), các môn còn lại thi trắc nghiệm. Đề thi được xây dựng theo hướng tiêu chuẩn hóa nhằm đánh giá năng lực của sinh viên cũng như các kỹ năng cần thiết cho việc học ĐH. Không chỉ việc thi tuyển mà công tác xét tuyển cũng được đề xuất thay đổi. Theo đó, kết quả kỳ thi đánh giá năng lực có thể được sử dụng là tiêu chí xét tuyển hoặc kèm thêm các điều kiện khác tùy vào điều kiện của từng trường như xét học bạ phổ thông, kết quả thi tốt nghiệp THPT, viết bài luận, kết quả hoạt động cộng đồng... TS Robert A.Altman - nguyên phó chủ tịch Viện Khảo thí giáo dục Hoa Kỳ - cho rằng kỳ thi hiện nay tác động tiêu cực đến việc học tập của học sinh ở bậc phổ thông. Việc thi năm môn sẽ tránh được tình trạng học sinh học lệch ở bậc phổ thông. Dù học ngành nào, học sinh cũng phải đảm bảo kiến thức đều năm môn học này. Tuy nhiên, các môn thi này nhằm kiểm tra năng lực chung của thí sinh, do đó không quá chú trọng vào kiến thức mà phải bao gồm trong đó kỹ năng của từng môn. Đồng tình với dự thảo đề án, GS-TSKH Lâm Quang Thiệp cho biết đây là những giải pháp tích cực và các trường cần ngồi lại với nhau để bàn bạc, góp cho Bộ GD-ĐT phương án tuyển sinh tốt nhất. Chuẩn bị tốt ngân hàng đề thi Một trong những khâu quan trọng nhất của đề án là việc xây dựng ngân hàng đề thi. TS Lê Thị Thanh Mai, ĐHQG TP.HCM, cho rằng đề thi hiện nay chưa làm được việc này. Sau mỗi kỳ thi, hoàn toàn không có sự phân tích, đánh giá nào về từng câu hỏi cũng như toàn bộ đề thi để có những căn cứ khoa học cần thiết cho việc ra đề thi tiếp sau. TS Robert A.Altman lưu ý: Khi xây dựng câu hỏi cần phải cân nhắc đến nội dung, mức độ khó và những kỹ năng chúng ta sẽ hỏi. Ví dụ đối với môn toán, có những câu hỏi thuần về kiến thức nhưng cũng có câu chỉ hỏi về kỹ năng toán học. Một điểm cần lưu ý nữa là chương trình phổ thông có được dạy đồng đều ở các vùng miền, đề thi có được hỏi ngoài chương trình phổ thông hay không, bộ phận tổ chức thi phải đảm bảo độ tin cậy như thế nào. Có nước mất đến 10 năm để xây dựng ngân hàng đề thi chứ không thể vội vàng. TS Nguyễn Kim Quang - Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐHQG TP.HCM) - băn khoăn hiện nay học sinh rất hay học tủ, ngân hàng đề thi làm sao để học sinh học nắm kiến thức chứ không phải học tủ như hiện nay, kể cả môn trắc nghiệm. Trong khi đó, TS Nguyễn Thanh Nam - trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG TP.HCM) - cho rằng việc phỏng vấn toàn bộ thí sinh sau khi đạt ngưỡng của kỳ thi đánh giá năng lực là khó khả thi, thậm chí phát sinh tiêu cực. Thay vào đó, các trường có thể tuyển 90% thí sinh đạt ngưỡng kỳ thi đánh giá năng lực và điều kiện của trường, 10% còn lại có thể phỏng vấn những thí sinh có tố chất hoặc các năng lực đặc biệt để tuyển vào trường. Tuyển sinh ĐH ở một số nước * Anh, Pháp: kết quả tú tài, một số trường lớn có đánh giá riêng. * Úc: kết quả tú tài + kết quả học tập bậc phổ thông. * Mỹ: kết quả đánh giá năng lực (SAT, ACT) + kết quả học tập phổ thông + phỏng vấn. * Trung Quốc: thi tuyển sinh ĐH chung toàn quốc với các môn tiếng Hoa, ngoại ngữ, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội. Một số trường trọng điểm tổ chức tuyển sinh riêng. * Nhật, Hàn Quốc: thi tuyển hai vòng. Vòng 1 thi chung toàn quốc kiểm tra kiến thức tổng quát về toán, quốc ngữ, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và ngoại ngữ. Vòng 2 riêng cho các trường. * Thái Lan: thi chung toàn quốc với bảy môn: tiếng Thái, tiếng Anh, toán, khoa học, xã hội học, giáo dục sức khỏe, văn hóa nghệ thuật. Các trường y khoa tuyển sinh riêng. MINH GIẢNG
Đào tạo tiến sĩ: Đối diện với thực tế

Đào tạo tiến sĩ: Đối diện với thực tế

26-11-2012
Đã đến lúc (không bao giờ là quá muộn) đối diện với thực tế và nhìn nhận một cách đúng mực và khả thi về số lượng tiến sĩ cần dùng cho các trường đại học Việt Nam, và có một cái nhìn rõ ràng hơn về những điều cần làm để đạt được mục đích này. >>  Có 24.000 tiến sĩ vẫn thiếu những nhà khoa học giỏi >>  Việt Nam nhiều tiến sĩ nhất ASEAN, nhưng lại ít chất xám Một bài báo gần đây1 đăng trên báo An ninh Thủ đô đã chỉ ra một số sai sót của hệ thống đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam. Trong đó một sai phạm nghiêm trọng là một số nghiên cứu sinh đã mua luận văn được viết thuê với giá cả 500 triệu đồng từ những người kiếm sống bằng hoạt động gian lận này, trong đó có rất nhiều những tài liệu bị “cắt và dán” từ các công trình đã được công bố của người khác. Một sai sót thứ hai mà bài báo chỉ ra là hiện tượng thiếu năng lực của các hội đồng trong việc thẩm định kỹ năng cùng năng lực của nghiên cứu sinh, qua đó ngầm ám chỉ rằng các thành viên của những hội đồng này hoặc là kém cỏi, hoặc là tham nhũng, hoặc là cả hai. Sai sót thứ ba là việc thiếu những hình phạt đối với những sai phạm trên, đặc biệt là đối với những người viết thuê và bán những luận văn nghiên cứu giả tạo.    Là người đã dành phần lớn sự nghiệp khoa học của mình tại một trung tâm nghiên cứu quốc tế, tôi đã giám sát và hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ từ khắp nơi trên thế giới, nhưng chưa ở nơi đâu tôi lại thấy một hệ thống phức tạp và quan liêu như vậy, một hệ thống đặt quá ít lòng tin vào những người thầy hướng dẫn. Một trong những sai sót đề cập trên đây có sự liên quan tới những kết quả hạn chế của chương trình 322, có chức năng cử các sinh viên Việt Nam ra nước ngoài làm nghiên cứu sinh tiến sĩ, ngầm ám chỉ rằng một số sinh viên được lựa chọn một cách không đủ nghiêm túc, hoặc không theo những tiêu chí lựa chọn thích hợp. Chương trình này đột ngột bị gián đoạn trong tháng 5 năm nay trước khi được phục hồi vào tháng 7. Tác giả bài báo đưa ra kết luận với những số liệu đáng quan tâm. Đó là nhắc lại mục tiêu đặt ra của Chính phủ đạt được 20 nghìn tiến sĩ vào năm 2020 nhằm có được 30% các giảng viên đại học có bằng tiến sĩ. Tuy nhiên, tác giả ước tính rằng số lượng tiến sĩ cần thiết cho mục tiêu này thực chất phải là 60 nghìn, nghĩa là sẽ cần thêm 45 nghìn tiến sĩ nữa. Cả 2 con số này dường như đều không khả thi. Giáo sư Pierre Darriulat, nhà vật lý hàng đầu thế giới người Pháp - tác giả bài viết. Rõ ràng là số lượng nghiên cứu sinh tiến sĩ mà Việt Nam có thể đào tạo rõ ràng thấp hơn so với kỳ vọng của Chính phủ. Do vậy chúng ta không thể kỳ vọng nhanh chóng tăng số lượng những giáo sư đại học đủ năng lực và đạo đức. Có lẽ điều cấp thiết phải làm ngay hiện nay là xác định ra những giáo sư như vậy, và tin tưởng giao phó cho họ công việc đào tạo và hướng dẫn các nghiên cứu sinh. Ở một số nước trên thế giới có một quy trình để làm điều này, đó là quy trình phong tặng danh hiệu “habilitation”. Sự phong tặng này hoàn toàn dựa trên thành tựu, căn cứ vào kỹ năng nghiên cứu và kết quả đạt được, số lượng và chất lượng các công bố khoa học, hiệu quả giảng dạy, sự ghi nhận trong phạm vi ngoài trường và phạm vi quốc tế, cùng những tiêu chí khác mà người ta cho rằng cần thiết, miễn là chúng phải khách quan, công bằng, không mở cửa cho sự tư tình và những sự bất công. Chúng ta cần tập trung vào việc tạo ra những bằng cấp không bị giả tạo, thu hút các tài năng, và chỉ cần tạo ra số lượng bằng cấp trong giới hạn chừng mực khả năng thực tiễn của chúng ta.   Việc đặt ra một danh hiệu như “habilitation” sẽ đem lại nhiều lợi ích, miễn là được thực hiện một cách có đạo đức, nghĩa là việc phong tặng phải do một ủy ban bên ngoài. Cần trả lương cao cho những người được phong tặng danh hiệu này, cũng như cho những người trẻ tuổi đã làm xong hậu tiến sĩ với năng lực đầy đủ và đang mong mỏi được tạo cơ hội.Việc hướng dẫn một nghiên cứu sinh tiến sĩ cần rất nhiều thời gian và nỗ lực. Sẽ không hợp lý nếu đòi hỏi rằng một thầy hướng dẫn trung bình mỗi năm phải tạo ra được trên một tiến sĩ – nghĩa là đòi hỏi thầy hướng dẫn này phải liên tục hướng dẫn cho 3 nghiên cứu sinh tiến sĩ (thông thường thời gian hướng dẫn mỗi nghiên cứu sinh tiến sĩ là 3 năm). Nhưng những gì đang xảy ra ở Việt Nam trong thời gian gần đây lại hoàn toàn trái ngược với những gì tôi trình bày trên đây: thay vì tuyển chọn thày hướng dẫn một cách nghiêm ngặt hơn và tin tưởng giao phó trách nhiệm cho họ, người ta lại tạo ra một hệ thống các quy định phức tạp nhằm giám sát, theo dõi công việc của họ2; các nghiên cứu sinh phải viết báo cáo ba tháng một lần cho học viện về tiến độ công việc của mình; họ phải trình bày 3 đề tài cơ bản trước một hội đồng đặc biệt thứ nhất; họ phải trình bày 3 đề tài cụ thể trước một hội đồng đặc biệt thứ hai; và họ phải bảo vệ đề tài của mình hai lần trước hai hội đồng đặc biệt khác. Sẽ không hợp lý nếu đòi hỏi rằng một thầy hướng dẫn trung bình mỗi năm phải tạo ra được trên một tiến sĩ – nghĩa là đòi hỏi thầy hướng dẫn này phải liên tục hướng dẫn cho 3 nghiên cứu sinh tiến sĩ (thông thường thời gian hướng dẫn mỗi nghiên cứu sinh tiến sĩ là 3 năm). Là người đã dành phần lớn sự nghiệp khoa học của mình tại một trung tâm nghiên cứu quốc tế, tôi đã giám sát và hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ từ khắp nơi trên thế giới, nhưng chưa ở nơi đâu tôi lại thấy một hệ thống phức tạp và quan liêu như vậy, một hệ thống đặt quá ít lòng tin vào những người thầy hướng dẫn. Vấn đề cần quan tâm ở đây không phải là bằng cấp, mà là kỹ năng, năng lực, và tri thức hàm chứa đằng sau nó. Đào tạo ra 20 nghìn tiến sĩ để làm gì nếu tấm bằng có thể mua được bằng tiền? Chúng ta không cần đến những tấm bằng tiến sĩ được gắn trên tường văn phòng. Việt Nam cần những tiến sĩ có thể giúp đất nước vượt qua những thử thách trước mắt. Và những thứ luận văn sao chép không giúp gì cho điều này. Đây là thực tế không thể phủ định. [Vì vậy], chúng ta cần tập trung vào việc tạo ra những bằng cấp không bị giả tạo, thu hút các tài năng, và chỉ cần tạo ra số lượng bằng cấp trong giới hạn chừng mực khả năng thực tiễn của chúng ta.    Chúng ta cũng cần hiểu rõ hơn làm sao để giúp những người đã làm xong hậu tiến sĩ có thể kết nối vào đời sống công việc, dù là mang tính học thuật hay phi học thuật. Cần có một chương trình theo dõi và tiếp tục đào tạo cho những người đã làm xong hậu tiến sĩ, căn cứ vào nhu cầu cơ bản chung của đất nước, và nhu cầu cụ thể của các trường đại học. Ngày nay, không ít những người đã làm hậu tiến sĩ ở những lĩnh vực tiên tiến nhất của vật lý học, cuối cùng phải đi dạy trung học (giáo viên trung học là một nghề đáng được tôn trọng, nhưng họ đâu cần đến bằng tiến sĩ để phải lãng phí tiền bạc và công sức), và rất hiếm những người làm hậu tiến sĩ tìm được công việc phù hợp với tài năng của mình ở Việt Nam. Chúng ta cần thay đổi thói quen cố hữu hiện nay một cách quyết liệt. Cần tuyển chọn [sinh viên/nghiên cứu sinh] nghiêm túc hơn, và xử lý nghiêm khắc hơn những trường hợp gian lận. Cần xác định đúng hơn những người thầy có đủ nhân cách và năng lực để hướng dẫn các nghiên cứu sinh tiến sĩ. Cần đơn giản hóa hệ thống những quy định phức tạp, tương đồng với những tiêu chuẩn quốc tế, nhằm khuyến khích và giản lược hóa những thỏa thuận hợp tác đồng hướng dẫn (tiếng Pháp gọi là cotutelles3). Chúng ta cũng cần tăng cường mạnh mẽ những giảng viên trẻ trong các trường đại học bằng cách trao cho họ những cơ hội thực sự.Hiện nay, sự tự tôn đang khiến chúng ta không dám đối diện hiện thực, và sự khiêm tốn khiến chúng ta không dám tham vọng [một cách thực tế]. Chúng ta cần phải có thái độ hoàn toàn ngược lại: sự tự tôn là để chúng ta tham vọng và tự tin; sự khiêm tốn để giúp chúng ta có nghị lực để đối diện với thực tế. Hiện nay, các trường đại học Việt Nam đang rất thiếu những giảng viên có đủ năng lực để đào tạo cho sinh viên một cách bài bản cần thiết trong bối cảnh hiện tại đất nước đang phát triển rất nhanh. Hơn nữa, các trường này, cũng như nhiều trường đại học khác trên thế giới, đang phải gánh trách nhiệm đào tạo số lượng sinh viên quá nhiều so với năng lực của họ, do những gia đình có đủ tiền trả học phí thường gửi con em mình tới trường đại học với hy vọng rằng chúng sẽ đạt được một đẳng cấp cao hơn trong xã hội và trở nên giàu có hơn. Ngày nay Việt Nam đang có quá nhiều sinh viên học về tiếp thị, kinh doanh và kinh tế trong khi lại thiếu người được đào tạo về thủ công nghiệp và nghề trong các ngành có tiềm năng sáng tạo và hiệu quả kinh tế cao; có quá nhiều sinh viên dành tới 4 năm trong các trường đại học mà về cơ bản không học hỏi được gì nhiều dù có tấm bằng đại học. Rõ ràng là cần có một hệ thống sát hạch nghiêm ngặt không chỉ ở giai đoạn tuyển đầu vào mà cả với những kỳ thi cuối năm, đặc biệt là trong quá trình sát hạch cấp bằng; đồng thời tổ chức một hệ thống dạy nghề và trường kỹ thuật nhằm giảm bớt lượng sinh viên tại các trường đại học; tạo những khóa đào tạo ngắn hạn tại các trường đại học, cho phép sinh viên tốt nghiệp đi làm chỉ sau 2 năm với một tấm bằng thấp hơn so với bằng đại học. --------------1 Quỳnh Nga, An ninh Thủ đô, Tiến sĩ ơi là tiến sĩ ơi!, 28 tháng 10, 2012.2http://vanban.moet.gov.vn/?page=1.15&script=viewdoc&view=1170&opt=brpage.3 P. Darriulat, Tia Sáng, Hình thức thực hiện Luận án đồng hướng dẫn, Tháng 7, 2011.   GS. Pierre Darriulat Theo Tia Sáng
Cơ chế tự chủ cho trường Đại học: Không thể “nửa vời”

Cơ chế tự chủ cho trường Đại học: Không thể “nửa vời”

26-11-2012
(Dân trí) - Giao quyền tự chủ tài chính cho các trường đại học là chủ trương đúng đắn, phù hợp với xu hướng phát triển quốc tế, nhất là trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn chế. Tuy nhiên, cơ chế khó có thể phát huy hiệu quả nếu chỉ là “tự chủ nửa vời”. >>  “Chính sách học phí thấp đang trợ cấp ngược cho người giàu” Thực hiện Nghị định 43 của Chính phủ về quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, Bộ GĐ-ĐT đã phân loại và giao phương án tự chủ tài chính cho một số đơn vị trực thuộc Bộ, trong đó có 6 trường Đại học được giao tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên. Sáu trường đại học được Bộ GĐ-ĐT chọn thí điểm tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên là Đại học Ngoại thương, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, Đại học Hà Nội, Đại học Mở TP Hồ Chí Minh và Viện Đại học Mở Hà Nội. Các trường đại học Việt Nam cần có cơ chế tự chủ để phát triển Sau hơn 4 năm thực hiện, việc thực hiện thí điểm cơ chế tự chủ tài chính ở các cơ sở giáo dục Đại học này đã đạt những thành công bước đầu, nhưng bên cạnh đó cũng còn tồn tại nhiều bất cập cần tháo gỡ. Tự chủ về chi mà chưa được tự chủ về thu “Thực tế cho thấy, việc giao tự chủ tài chính nhưng không được giao tự chủ về mức thu học phí, các cơ sở đào tạo vẫn phải thực hiện mức thu học phí trong trần quy định thấp, không bù đắp đủ chi phí hoạt động thường xuyên nên việc thực hiện tự chủ tài chính không thực chất”, Tiến sĩ Nguyễn Trường Giang, Phó vụ trưởng Vụ Hành chính Sự nghiệp, Bộ Tài chính nói. Đồng tình với ý kiến này, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ, Vụ trưởng Vụ KHTC, Bộ GD-ĐT chỉ rõ: “Nghị định 43/CP có phân loại các đơn vị tự chủ thành tự đảm bảo 100% kinh phí chi thường xuyên và tự đảm bảo một phần kinh phí chi thường xuyên nhưng quy định thu là như nhau nên thiếu cơ chế khuyến khích các đơn vị thí điểm tự chủ trong việc tăng nguồn thu”. Nguồn thu hiện nay của các trường đại học chủ yếu vẫn là nguồn thu học phí. Nguồn thu này được quyết định bởi hai yếu tố: Chỉ tiêu đào tạo và mức thu. Tuy nhiên, các đơn vị này thí điểm tự chủ vẫn bị khống chế chỉ tiêu đào tạo theo quy định của Bộ GD-ĐT và mức thu học phí, lệ phí bị giới hạn theo NĐ 49/CP của Chính phủ về khung học phí. “Trên thực tế, các trường này bị cắt giảm ngân sách chi thường xuyên nhưng lại thực hiện thu như các trường đại học khác nên dẫn đến các trường không muốn tham gia thí điểm tự chủ tài chính”, ông Vũ chia sẻ. Cơ chế chưa khuyến khích tự chủ   Theo TS Giang, cơ chế giao quyền tự chủ tài chính cho các trường đại học còn bất cập ở chỗ, một số cơ sở đào tạo đi tiên phong trong việc thực hiện tự chủ toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên nhưng nhà nước thiếu những chính sách khuyến khích cao hơn các đơn vị được ngân sách nhà nước hỗ trợ, dẫn đến không khuyến khích các đơn vị chuyển từ loại hình tự chủ một phần sang tự chủ toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên , ngược lại một số đơn vị đang đề nghị được quay trở lại loại hình được ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động. Đánh giá từ phía Bộ GD-ĐT cũng cho thấy thực tế còn bất cập này. “Với các trường được giao thí điểm tự chủ tài chính, mặc dù các đơn vị này không còn được ngân sách nhà nước cấp kinh phí hoạt động thường xuyên nhưng không được hưởng bất cứ cơ chế tài chính ưu đãi nào so với các đơn vị được giao tự đảm bảo một phần kinh phí chi thường xuyên”, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ nói trong hội thảo “Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học”. Bên cạnh đó, hiện chưa có quy định việc huy động vốn và vay vốn của các tổ chức tín dụng cho các hoạt động dịch vụ công để khuyến khích các đơn vị chủ động giải quyết việc thiếu phòng học, cơ sở vật chất..., đáp ứng yêu cầu phát triển của đơn vị. Theo ông Vũ, để giải quyết các bất cập nêu trên, các trường cần được trao quyền tự chủ hơn nữa, tự chịu trách nhiệm về hoạt động đào tạo, tự chủ về hoạt động liên doanh, liên kết và hợp tác quốc tế. Điểm quan trọng nữa là các trường cần được tự chủ nhiều hơn trong việc trả thu nhập cho người lao động để thu hút các thày giáo và chuyên gia giỏi phục vụ nhà trường. Mạnh Hải
Mở rộng diện tuyển thẳng vào đại học

Mở rộng diện tuyển thẳng vào đại học

24-11-2012
Học sinh (HS) tham gia tập huấn chuẩn bị dự thi Olympic khu vực và quốc tế do Bộ GD-ĐT tổ chức được tuyển thẳng vào các trường ĐH theo nguyện vọng đăng ký. Điểm mới nói trên được Bộ GD-ĐT thông báo tại thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế chọn HS giỏi cấp quốc gia.  Ảnh Lê Anh Dũng Thông tư sửa đổi cũng nêu rõ, kỳ thi chọn đội tuyển Olympic dành cho thí sinh là HS đang học cấp THPT và thuộc một trong các diện: Được Bộ tuyển chọn trong số các HS đã đoạt giải trong kỳ thi chọn HS giỏi quốc gia cùng năm theo nguyên tắc tuyển từ cao xuống thấp theo điểm thi, đảm bảo số HS được tuyển chọn cho mỗi môn thi không vượt quá 8 lần số HS cần chọn vào đội tuyển quốc gia dự thi Olympic quốc tế môn đó. Về phần chọn HS vào các đội tuyển Olympic Bộ quy định, sau khi hoàn tất việc chấm điểm bài thi các kỳ thi chọn HS giỏi cấp quốc gia, xếp thứ tự số phách theo điểm thi từ cao xuống thấp để xét chọn thí sinh tham gia tập huấn chuẩn bị dự thi Olympic khu vực và quốc tế, đảm bảo số thí sinh được tuyển chọn không vượt quá 1,5 lần số thí sinh của đội tuyển mỗi môn thi. Chủ tịch Hội đồng chấm thi các kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp quốc gia có trách nhiệm trình Bộ trưởng Bộ GD-ĐT phê duyệt danh sách thí sinh (theo số phách bài thi) được tuyển chọn tham gia tập huấn chuẩn bị dự thi Olympic khu vực và quốc tế. Nguyễn Hiền
Tạo dựng danh tiếng trường ĐH bằng chất lượng đào tạo

Tạo dựng danh tiếng trường ĐH bằng chất lượng đào tạo

22-11-2012
TT - Đó là khẳng định của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang với thầy trò Trường ĐH Bách khoa Hà Nội nhân dịp Chủ tịch nước thăm trường sáng 20-11. Với kỳ vọng xây dựng Trường ĐH Bách khoa Hà Nội thành một trung tâm đào tạo, nghiên cứu có uy tín cao về lĩnh vực khoa học - công nghệ trong khu vực và trên thế giới, Chủ tịch nước nhắn nhủ cùng với sự phát triển quy mô, vấn đề quan trọng hơn là trường phải nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và chất lượng nghiên cứu khoa học. “Không phải số lượng mà chỉ có chất lượng cao của sản phẩm giáo dục, nghiên cứu khoa học mới tạo nên uy tín, danh tiếng của trường, mới là thước đo chủ yếu cho đóng góp của nhà trường với đất nước” - Chủ tịch nước nhắc nhở. Thể hiện quyết tâm nghiên cứu những sản phẩm khoa học có tầm cỡ, đóng góp nhiều hơn nữa cho quốc gia, Trường ĐH Bách khoa Hà Nội đã chọn món quà kỷ niệm đặc biệt dành tặng Chủ tịch nước: mô hình chiếc tàu ngầm BKAV1. “Đây là sản phẩm do nhóm nghiên cứu trẻ của trường chế tạo, hàm chứa thông điệp: tập thể cán bộ trẻ nhà trường quyết tâm thực hiện đề tài này đến cùng và tạo ra sản phẩm có khả năng ứng dụng tốt trong an ninh quốc phòng” - GS.TS Nguyễn Trọng Giảng, hiệu trưởng Trường ĐH Bách khoa Hà Nội, nói. Chủ tịch nước gửi gắm: “Tôi thấy hình ảnh chiếc tàu ngầm rất hay. Tôi hi vọng từ mô hình này sẽ có được chiếc tàu ngầm thật sự của Việt Nam, do người Việt Nam chế tạo, hoạt động trên vùng biển rộng hàng triệu kilômet vuông của đất nước mình”. NGỌC HÀ
Sinh viên sẽ bị buộc thôi học sau mỗi học kỳ

Sinh viên sẽ bị buộc thôi học sau mỗi học kỳ

22-11-2012
Đó là điểm mới liên quan đến quyền lợi của sinh viên (SV) được Bộ GD-ĐT đưa ra tại dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Quy chế đào tạo ĐH, CĐ hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ lấy ý kiến rộng rãi. Ảnh Văn Chung Theo đó, tại điều 16 Bộ GD-ĐT dự kiến mức cảnh báo kết quả học tập đối với SV như sau: Điểm trung bình chung học kỳ đạt dưới 0,80 đối với học kỳ đầu của khóa học, dưới 1,00 đối với các học kỳ tiếp theo; Điểm trung bình chung tích luỹ đạt dưới 1,20 đối với SV năm thứ nhất, dưới 1,40 đối với SV năm thứ hai, dưới 1,60 đối với SV năm thứ ba hoặc dưới 1,80 đối với SV các năm tiếp theo và cuối khoá; Số lần cảnh báo kết quả học tập do Hiệu trưởng qui định, nhưng không vượt quá 2 lần liên tiếp. Cảnh báo kết quả học tập được thực hiện theo từng học kỳ hoặc chuyển xếp năm đào tạo mới. Sau mỗi học kỳ, SV bị buộc thôi học nếu rơi vào một trong các trường hợp: Có số lần cảnh báo kết quả học tập vượt quá giới hạn theo quy định của Hiệu trưởng; Vượt quá thời gian tối đa được phép học tại trường quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy chế này; Bị kỷ luật lần thứ hai vì lý do đi thi hộ hoặc nhờ người thi hộ theo quy định hoặc bị kỷ luật ở mức xoá tên khỏi danh sách SV của trường. Về chương trình đào tạo Bộ yêu cầu thể hiện rõ: trình độ đào tạo; đối tượng đào tạo, điều kiện nhập học và điều kiện tốt nghiệp; mục tiêu đào tạo, chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học khi tốt nghiệp; khối lượng kiến thức lý thuyết, thực hành, thực tập; kế hoạch đào tạo chuẩn; phương pháp và hình thức đào tạo; đề cương chi tiết của các học phần; cách thức đánh giá kết quả học tập; các điều kiện thực hiện chương trình. Mỗi chương trình gắn với một ngành (kiểu đơn ngành) hoặc với một vài ngành (kiểu song ngành, kiểu ngành chính - ngành phụ, kiểu 2 văn bằng) và được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp. Hiệu trưởng phê duyệt chương trình thực hiện trong trường mình, với khối lượng của mỗi chương trình không dưới: 180 tín chỉ đối với khoá đại học 6 năm; 150 tín chỉ đối với khoá ĐH 5 năm; 120 tín chỉ đối với khoá ĐH 4 năm; 90 tín chỉ đối với khoá CĐ 3 năm; 60 tín chỉ đối với khoá CĐ 2 năm.” Nội dung sửa đổi, bổ sung quy định về chương trình đào tạo được Bộ GD-ĐT đưa ra tại điều 2.  Nguyễn Hiền
Sẽ có quy định dạy và học bằng tiếng nước ngoài

Sẽ có quy định dạy và học bằng tiếng nước ngoài

22-11-2012
(Dân trí)-Đối với giáo dục phổ thông, việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài chỉ áp dụng đối với các môn khoa học tự nhiên, công nghệ và tin học theo chương trình giáo dục phổ thông của Việt Nam hoặc chương trình của nước ngoài do Bộ GD-ĐT quy định hoặc phê duyệt. >>  Dạy khoa học bằng tiếng Anh: Thiếu trăm bề Đây là một trong những điểm quan trọng của dự thảo Quyết định ban hành quy định việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác Bộ GD-ĐT vừa công bố lên website của Bộ GD-ĐT để xin ý kiến rộng rãi. Theo dự thảo này, thì mục ban hành quy định nhằm để nâng cao chất lượng nhân lực và giáo dục Việt Nam để đẩy mạnh tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế. Phát huy kết quả việc dạy và học ngoại ngữ nêu trong Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020”. Bên cạnh đó giúp nhà giáo và người học tăng cường năng lực ngoại ngữ, có khả năng tiếp cận và khai thác các nguồn tài liệu khoa học và chuyên môn bằng tiếng nước ngoài phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập và các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, từ đó tăng thêm cơ hội việc làm và phát triển sự nghiệp cho người học; Góp phần giúp người học nâng cao và hoàn thiện trình độ tiếng Việt. Việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài xuất phát từ nhu cầu và sự tự nguyện của người học và người dạy. Việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài được vận dụng linh hoạt ở nhiều mức độ trình độ khác nhau phù hợp với điều kiện dạy học của cơ sở giáo dục, đội ngũ nhà giáo và năng lực ngoại ngữ của người dạy, người học (dạy học hoàn toàn bằng tiếng nước ngoài; dạy học song ngữ: là hình thức kết hợp vừa sử dụng tiếng nước ngoài vừa sử dụng tiếng Việt để dạy học). Nhà giáo dạy học bằng tiếng nước ngoài phải đạt chuẩn năng lực ngoại ngữ và dạy đúng chuyên ngành được đào tạo hoặc có chuyên ngành đào tạo phù hợp; được hưởng chế độ thù lao cho việc dạy bằng tiếng nước ngoài. Theo quy định của Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020”, năng lực ngoại ngữ tối thiểu của giáo viên phổ thông dạy bằng tiếng nước ngoài phải cao hơn năng lực ngoại ngữ yêu cầu cần đạt của học sinh trong cấp học 2 bậc; người dạy tại các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp phải đạt trình độ ngoại ngữ bậc C1 của Khung tham chiếu năng lực ngoại ngữ châu Âu hoặc tương đương. Dự thảo cũng cho biết, đối các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp tự lựa chọn hoặc phối hợp với đối tác nước ngoài xây dựng chương trình đào tạo để dạy bằng tiếng nước ngoài một số môn cơ bản, cơ sở, chuyên ngành, những nội dung kiến thức, kỹ năng được thiết kế thành các môn học, tín chỉ hoặc mô - đun; ưu tiên cho các chương trình tiên tiến, các chương trình liên kết đào tạo với các cơ sở nước ngoài hoặc một số ngành trọng điểm, có nhu cầu hội nhập cao như công nghệ thông tin, kinh tế, tài chính, ngân hàng, du lịch và các chương trình đào tạo theo nhu cầu xã hội và nhu cầu của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Không dạy học bằng tiếng nước ngoài đối với các nội dung thuộc về các lĩnh vực chính trị, văn hóa, nghệ thuật, lịch sử Việt Nam. Giáo trình, tài liệu giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp cụ thể hóa về nội dung kiến thức, kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo có thể được dịch từ tiếng Việt ra tiếng nước ngoài để giảng dạy hoặc sử dụng giáo trình, tài liệu của nước ngoài được lựa chọn, biên tập và điều chỉnh về nội dung sao cho phù hợp với trình độ của người học và điều kiện tổ chức đào tạo của Việt Nam. S.H